Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

Tổng quan về ổ đĩa cứng


1. Lịch sử
    Ổ cứng đầu tiên trên thế giới có là IBM 350 Disk File được chế tạo bởi Reynold Johnson ra mắt năm 1955 cùng máy tính IBM 305. Ổ cứng này có tới 50 tấm đĩa kích thước 24" với tổng dung lượng là 5 triệu kí tự. Một đầu từ được dùng để truy nhập tất cả các tấm đĩa khiến cho tốc độ truy nhập trung bình khá thấp.
2. Cấu tạo

Cụm đĩa: Bao gồm toàn bộ các đĩa, trục quay và động cơ.
Cụm đầu đọc: Đầu đọc/ghi và Cần di chuyển đầu đọc
Cụm mạch điện: gồm:
-       Mạch điều khiển.
-       Mạch xử lý dữ liệu.
-       Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer).
-       Đầu cắm nguồn cung cấp điện cho ổ đĩa cứng.
-       Đầu kết nối giao tiếp với máy tính.
-       Các cầu đấu thiết đặt (tạm dịch từ jumper) thiết đặt chế độ làm việc của ổ đĩa cứng.
Vỏ đĩa cứng: định vị các linh kiện và đảm bảo độ kín khít để không cho phép bụi được lọt vào bên trong của ổ đĩa cứng, chịu đựng sự va chạm (ở mức độ thấp) để bảo vệ ổ đĩa cứng. Do đầu từ chuyển động rất sát mặt đĩa nên nếu có bụi lọt vào trong ổ đĩa cứng cũng có thể làm xước bề mặt, mất lớp từ và hư hỏng từng phần (xuất hiện các khối hư hỏng (bad block))... Thành phần bên trong của ổ đĩa cứng là không khí có độ sạch cao, để đảm bảo áp suất cân bằng giữa môi trường bên trong và bên ngoài, trên vỏ bảo vệ có các hệ lỗ thoáng đảm bảo cản bụi và cân bằng áp suất.
Đĩa từ: Đĩa thường cấu tạo bằng nhôm hoặc thuỷ tinh, trên bề mặt được phủ một lớp vật liệu từ tính là nơi chứa dữ liệu, lớp từ đó có thể được phủ ở cả hai mặt đĩa, đĩa cứng có thể có nhiều đĩa từ, chúng gắn song song, quay đồng trục, cùng tốc độ với nhau khi hoạt động.
Track: là nhiều vòng tròn đồng tâm trên mặt đĩa, không phải là các dạng xoắn ốc như trên đĩa nhựa, Track trên ổ đĩa cứng không cố định từ khi sản xuất, chúng có thể thay đổi vị trí khi định dạng cấp thấp ổ đĩa. Một ổ đĩa cứng đã hoạt động quá nhiều năm liên tục, khi kết quả kiểm tra bằng các phần mềm cho thấy xuất hiện nhiều khối hư hỏng (bad block) thì có nghĩa là phần cơ của nó đã rơ rão và làm việc không chính xác như khi mới sản xuất, lúc này thích hợp nhất là format cấp thấp cho nó để tương thích hơn với chế độ làm việc của phần cơ.
Sector: Track là một vòng tròn hướng tâm, nhưng vòng trong đó không liền nhau, mà là những nén đứt, mỗi nét đứt đó gọi là sector, 1 sector chứ dung lượng 512byte.
Cylinder: là tập hợp các track mà tại đó đầu đọc/ghi đang đọc.
Trục quay: là một trục để gắn đĩa từ lên, trục này được gắn trực tiếp với động cơ để quay đĩa, trục này được làm bởi hợp kim nhôm, nhẹ, đặc biệc trọng tâm của nó phải chính xác chứ không khi quay ở tốc độ cao là sẽ bị rung lắc dẫn đến việc đọc/ghi không chính xác.
Đầu đọc/ghi: được làm từ lõi ferit và cuộn dây, hoạt động như một nam châm điện, nó được đặt rất sát với mặt đĩa, để đọc dữ liệu dưới dạng từ hóa, hoặc từ hóa lên đĩa khi ghi.
Cần di chuyển đầu đọc/ghi: là nơi mà đầu đọc/ghi được gắn trên đó, nó di chuyển để đưa đầu đọc/ghi đến những vị trí khác nhau trên đĩa để thực hiện nhiệm vụ của đầu đọc/ghi.
3.Nguyên tắc hoạt động.
    - Mọi yêu cầu từ OS máy tính đến ổ cứng đều phải qua bo mạch điều khiển trung gian.
    - Do tính chất làm việc của máy tính, không theo một trình tự nào cả, lúc thì nó làm việc này, khi thì nó làm việc kia, chưa kể đến tính đa nhiệm, bởi vậy mà một thời điểm luôn luôn xảy ra quá trình đọc/ghi dữ liệu lên mặt đĩa(mặt đĩa được phủ một lớp từ tính có tác dụng để lưu dưc liệu), và 1 dữ liệu a không được lưu một chỗ mà nằm rải rác tại các vị trí khác nhau trên mặt đĩa. Do đó việc đọc/ghi không theo một trình tự như là trên đĩa mềm.
    - Khi thực hiện một tác vụ nào đó, CPU phải yêu cầu dữ liệu từ ổ cứng, việc yêu cầu này được ổ cứng đáp ứng một cách tuần tự hoặc thông qua bộ nhớ đệm kết hợp với  một cách riêng nào đó tùy vào công nghệ, cách thứ hai này giúp tăng tốc độ cho toàn hệ thống.
    - Đầu đọc/ghi dữ liệu được cần di chuyển đưa đi theo phương bán kính của mặt đĩa trong khi đĩa từ đó quay rất nhanh đơn vị đo tốc độ này là rpm(vòng trên phút), việc phân bổ dữ liệu lên mặt đĩa thì lại nhờ vào bo mạch trên ổ cứng đó làm việc.
    - S.M.A.R.T (Self-Monitoring, Analysis, and Reporting Technology) là công nghệ tự động giám sát, chẩn đoán và báo cáo các hư hỏng có thể xuất hiện của ổ đĩa cứng để thông qua BIOS, các phần mềm thông báo cho người sử dụng biết trước sự hư hỏng để có các hành động chuẩn bị đối phó. Có thể bật hoặc tắt tính năng này trong bios.
4. Ổ cứng lai (hybrid hard disk drive) là các ổ đĩa cứng thông thường được gắn thêm các phần bộ nhớ flash trên bo mạch của ổ đĩa cứng. Cụm bộ nhớ này hoạt động khác với cơ chế làm việc của bộ nhớ đệm (cache) của ổ đĩa cứng: Dữ liệu chứa trên chúng không bị mất đi khi mất điện.
Trong quá trình làm việc của ổ cứng lai, vai trò của phần bộ nhớ flash như sau:
+ Lưu trữ trung gian dữ liệu trước khi ghi vào đĩa cứng, chỉ khi máy tính đã đưa các dữ liệu đến một mức nhất định (tuỳ từng loại ổ cứng lai) thì ổ đĩa cứng mới tiến hành ghi dữ liệu vào các đĩa từ, điều này giúp sự vận hành của ổ đĩa cứng tối hiệu quả và tiết kiệm điện năng hơn nhờ việc không phải thường xuyên hoạt động.
+ Giúp tăng tốc độ giao tiếp với máy tính: Việc đọc dữ liệu từ bộ nhớ flash nhanh hơn so với việc đọc dữ liệu tại các đĩa từ.
+ Giúp hệ điều hành khởi động nhanh hơn nhờ việc lưu các tập tin khởi động của hệ thống lên vùng bộ nhớ flash.
+ Kết hợp với bộ nhớ đệm của ổ đĩa cứng tạo thành một hệ thống hoạt động hiệu quả.

5. Dung lượng ổ đĩa cứng được tính bằng: (số byte/sector) × (số sector/track) × (số cylinder) × (số đầu đọc/ghi). Đa số các hãng sản xuất đều tính dung lượng theo cách có lợi (theo cách tính 1 GB = 1000 MB mà thực ra phải là 1 GB = 1024 MB) nên dung lượng mà hệ điều hành (hoặc các phần mềm kiểm tra) nhận ra của ổ đĩa cứng thường thấp hơn so với dung lượng ghi trên nhãn đĩa.
6. Các tốc độ quay thông dụng thường là:
+ 3.600 rpm: Tốc độ của các ổ đĩa cứng đĩa thế hệ trước.
+ 4.200 rpm: Thường sử dụng với các máy tính xách tay mức giá trung bình và thấp trong thời điểm 2007.
+ 5.400 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng 3,5" sản xuất cách đây 2-3 năm; với các ổ đĩa cứng 2,5" cho các máy tính xách tay hiện nay đã chuyển sang tốc độ 5400 rpm để đáp ứng nhu cầu đọc/ghi dữ liệu nhanh hơn.
+ 7.200 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng sản xuất trong thời gian hiện tại (2007)
+ 10.000 rpm, 15.000 rpm: Thường sử dụng cho các ổ đĩa cứng trong các máy tính cá nhân cao cấp, máy trạm và các máy chủ có sử dụng giao tiếp SCSI
7. Các thông số về thời gian trong ổ đĩa cứng
-       Thời gian tìm kiếm trung bình
Thời gian tìm kiếm trung bình (Average Seek Time) là khoảng thời gian trung bình (theo mili giây: ms) mà đầu đọc có thể di chuyển từ một cylinder này đến một cylinder khác ngẫu nhiên (ở vị trí xa chúng). Thời gian tìm kiếm trung bình được cung cấp bởi nhà sản xuất khi họ tiến hành hàng loạt các việc thử việc đọc/ghi ở các vị trí khác nhau rồi chia cho số lần thực hiện để có kết quả thông số cuối cùng.
Thông số này càng thấp càng tốt.
-      Thời gian truy cập ngẫu nhiên
Thời gian truy cập ngẫu nhiên (Random Access Time): Là khoảng thời gian trung bình để đĩa cứng tìm kiếm một dữ liệu ngẫu nhiên. Tính bằng mili giây (ms).
Đây là tham số quan trọng do chúng ảnh hưởng đến hiệu năng làm việc của hệ thống, do đó người sử dụng nên quan tâm đến chúng khi lựa chọn giữa các ổ đĩa cứng. Thông số này càng thấp càng tốt.
-      Thời gian làm việc tin cậy

Thời gian làm việc tin cậy MTBF: (Mean Time Between Failures) được tính theo giờ (hay có thể hiểu một cách đơn thuần là tuổi thọ của ổ đĩa cứng). Đây là khoảng thời gian mà nhà sản xuất dự tính ổ đĩa cứng hoạt động ổn định mà sau thời gian này ổ đĩa cứng có thể sẽ xuất hiện lỗi (và không đảm bảo tin cậy).
8.Bộ nhớ đệm
Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer) trong ổ đĩa cứng cũng giống như RAM của máy tính, chúng có nhiệm vụ lưu tạm dữ liệu trong quá trình làm việc của ổ đĩa cứng. Hệ điều hành cũng có thể lấy một phần bộ nhớ của hệ thống (RAM) để tạo ra một bộ nhớ đệm lưu trữ dữ liệu được lấy từ ổ đĩa cứng nhằm tối ưu việc xử lý đối với các dữ liệu thường xuyên phải truy cập, đây chỉ là một cách dùng riêng của hệ điều hành mà chúng không ảnh hưởng đến cách hoạt động hoặc hiệu suất vốn có của mỗi loại ổ đĩa cứng. Có rất nhiều phần mềm cho phép tinh chỉnh các thông số này của hệ điều hành tuỳ thuộc vào sự dư thừa RAM trên hệ thống.
9. Chuẩn giao tiếp



10. Tốc độ truyền dữ liệu
Các thông số sau ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu của ổ đĩa cứng:
+ Tốc độ quay của đĩa từ.
+ Số lượng đĩa từ trong ổ đĩa cứng: bởi càng nhiều đĩa từ thì số lượng đầu đọc càng lớn, khả năng đọc/ghi của đồng thời của các đầu từ tại các mặt đĩa càng nhiều thì lượng dữ liệu đọc/ghi càng lớn hơn.
+ Công nghệ chế tạo: Mật độ sít chặt của các track và công nghệ ghi dữ liệu trên bề mặt đĩa (phương từ song song hoặc vuông góc với bề mặt đĩa): dẫn đến tốc độ đọc/ghi cao hơn.
+ Dung lượng bộ nhớ đệm: Ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu tức thời trong một thời điểm.
11. Kích thước
Kích thước ổ đĩa cứng thường được tính theo inch
12.Sự sử dụng điện năng
- Đa số các ổ đĩa cứng của máy tính cá nhân sử dụng hai loại điện áp nguồn: 5 Vdc và 12 Vdc (DC hoặc dc: Loại điện áp một chiều).
- Ổ đĩa cứng thường tiêu thụ điện năng lớn nhất tại thời điểm khởi động của hệ thống
13. Độ ồn
- Đơn vị tính độ ồn là db.
- Thông số này không quan trọng khi mua ổ cứng.
- Những tiếng "lắc tắc" nhỏ phát ra trong quá trình làm việc của ổ cứng một cách không đều đặn được sinh ra bởi cần đỡ đầu đọc/ghi di chuyển và dừng đột ngột tại các vị trí cần định vị để làm việc. Âm thanh này có thể giúp người sử dụng biết được trạng thái làm việc của ổ đĩa cứng mà không cần quan sát đèn trạng thái HDD.
14. Chu trình di chuyển
- Chu trình di chuyển của cần đọc/ghi (Load/Unload cycle) được tính bằng số lần chúng khởi động từ vị trí an toàn đến vùng làm việc của bề mặt đĩa cứng và ngược lại.
- Sau mỗi phiên làm việc (tắt máy), các đầu từ được di chuyển đến một vị trí an toàn nằm ngoài các đĩa từ nhằm tránh sự va chạm có thể gây xước bề mặt lớp từ tính, một số ổ đĩa có thiết kế cần di chuyển đầu đọc tự động di chuyển về vị trí an toàn sau khi ngừng cấp điện đột ngột. Nhiều người sử dụng năng động có thói quen ngắt điện trong một phiên làm việc trên nền DOS (bởi không có sự tắt máy chính thống) rồi tháo ổ đĩa cứng cho các công việc khác, quá trình di chuyển có thể gây va chạm và làm xuất hiện các khối hư hỏng (bad block).
15. Chịu đựng sốc.
Với các ổ cứng cho máy tính xách tay hoặc các thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân hay các ổ đĩa cứng ngoài thì thông số này càng cao càng tốt, với các ổ đĩa cứng gắn cho máy tính cá nhân để bàn thì thông số này ít được coi trọng khi so sánh lựa chọn giữa các loại ổ cứng bởi chúng đã được gắn cố định nên hiếm khi xảy ra sốc.
16. Nhiệt độ
- Nhiệt độ khi hoạt động là khoảng 40 độ c.
- Trên vỏ ổ cứng thường có một lỗ nhỏ để thông thoáng và cân bằng áp suất cho ổ cứng, nhưng đảm bảo cản được các hạt trong không khí, bởi bên trong nó là một môi trương không khí sạch.
- Ổ cứng mà ở những môi trường có nhiệt độ và độ ẩm không đảm bảo, có thể làm ngưng tụ hơi nước, nếu ta sử dụng ngay mà không làm ấm vật lý trước, thì dễ làm hỏng ổ cứng, khi mới mua ổ cứng, chúng ta nên thảo vỏ bảo vệ, rồi để một chút bên ngoài, rồi hãy bật lên dùng.
17. Phân vùng
- Là vùng mà chứa các cylinder gần nhau.
- Phân vùng để dễ dàng thao tác và quản lý dữ liệu trên ổ cứng hơn
- Phân vùng chứa hệ điều hành chính: Thường nên thiết lập phân vùng chứa hệ điều hành tại các vùng chứa phía ngoài rìa của đĩa từ (outer zone) bởi vùng này có tốc độ đọc/ghi cao hơn, dẫn đến sự khởi động hệ điều hành và các phần mềm khởi động và làm việc được nhanh hơn.
18. Định dạng của phân vùng.
- FAT (File Allocation Table): Chuẩn hỗ trợ DOS và các hệ điều hành họ Windows 9X/Me (và các hệ điều hành sau). Phân vùng FAT hỗ trợ độ dài tên 11 ký tự (8 ký tự tên và 3 ký tự mở rộng) trong DOS hoặc 255 ký tự trong các hệ điều hành 32 bit như Windows 9X/Me. FAT có thể sử dụng 12 hoặc 16 bit, dung lượng tối đa một phân vùng FAT chỉ đến 2 GB dữ liệu.
- FAT32 (File Allocation Table, 32-bit): Tương tự như FAT, nhưng nó được hỗ trợ bắt đầu từ hệ điều hành Windows 95 OSR2 và toàn bộ các hệ điều hành sau này. Dung lượng tối đa của một phân vùng FAT32 có thể lên tới 2 TB (2.048 GB).
- NTFS (Windows New Tech File System): Được hỗ trợ bắt đầu từ các hệ điều hành họ NT/2000/XP/Vista. Một phân vùng NTFS có thể có dung lượng tối đa đến 16 exabytes.
- exFAT (extended File Allocation Table): được thiết kế đặc biệt cho các ổ flash USB.
19. Format cấp thấp.
Format cấp thấp (low-level format) là sự định dạng lại các track, sector, cylinder (bao gồm cả các ‘khu vực" đã trình bày trong phần sector). Format cấp thấp thường được các hãng sản xuất thực hiện lần đầu tiên trước khi xuất xưởng các ổ đĩa cứng. Người sử dụng chỉ nên dùng các phần mềm của chính hãng sản xuất để format cấp thấp (cũng có các phần mềm của hãng khác nhưng có thể các phần mềm này không nhận biết đúng các thông số của ổ đĩa cứng khi tiến hành định dạng lại).
Khi các ổ cứng đã làm việc nhiều năm liên tục hoặc có các khối hư hỏng xuất hiện nhiều, điều này có hai khả năng: sự lão hoá tổng thể hoặc sự rơ rão của các phần cơ khí bên trong ổ đĩa cứng. Cả hai trường hợp này đều dẫn đến một sự không đáng tin cậy khi lưu trữ dữ liệu quan trọng trên nó, do đó việc định dạng cấp thấp có thể kéo dài thêm một chút thời gian làm việc của ổ đĩa cứng để lưu các dữ liệu không mấy quan trọng. Format cấp thấp giúp cho sự đọc/ghi trên các track đang bị lệch lạc trở thành phù hợp hơn khi các track đó được định dạng lại (có thể hiểu đơn giản rằng nếu đầu đọc/ghi bắt đầu làm việc dịch về một biên phía nào đó của track thì sau khi format cấp thấp các đầu đọc/ghi sẽ làm việc tại tâm của các track mới).

Không nên lạm dụng format cấp thấp nếu như ổ đĩa cứng của bạn đang hoạt động bình thường bởi sự định dạng lại này có thể mang lại sự rủi ro: Sự thao tác sai của người dùng, các vấn đề xử lý trong bo mạch của ổ đĩa cứng. Nếu như một ổ đĩa cứng xuất hiện một vài khối hư hỏng thì người sử dụng nên dùng các phần mềm che giấu nó bởi đó không chắc đã do sự hoạt động rơ rão của phần cứng.

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

Đa nhiệm trên Android, iOS và Windows Phone

Android

Android có lẽ là hệ điều hành thú vị nhất để tìm hiểu về đa nhiệm, nó có một hệ thống "lai" mở rộng cửa cho phép các ứng dụng chạy nền nhưng lại được ẩn giấu đi để người dùng không phát hiện ra. Chính vì vậy mà bạn không thể chủ động quản lý ứng dụng chạy hay tắt được.

Khi bạn chuyển qua một chương trình khác, chương trình mà bạn đang chạy sẽ không bị dừng lại, toàn bô tiến trình của nó vẫn sẽ được mở cho đến khi nào máy còn chịu được. Khi Android xác định máy đang thiếu bộ nhớ, nó sẽ tự động tắt tiến trình đó đi để giải phóng tài nguyên. Trước khi tắt, trạng thái làm việc của chương trình sẽ được lưu lại để khi truy xuất lần nữa, mọi công việc bạn làm vẫn được giữ nguyên. Tất nhiên, với các quản lý này bạn sẽ không biết được chương trình đó vừa bị tắt.

Vậy các chương trình có thể làm gì khi nó chạy nền? Android có 2 công cụ cho các chương trình của bên thứ 2, đó là boardcast receivers và dịch vụ. Với Boardcast, khi một chương trình chạy nền, nó sẽ luôn được thông báo về các sự kiện nhất định, chẳng hạn như bạn đã di chuyển được 500 mét hay thời lượng pin của bạn giảm còn 47%... Đây cũng là cách thức các chương trình sử dụng cơ chế push của Google hoạt động. Gmail là một ví dụ, thay vì luôn gửi các lệnh về máy chủ để xác định email mới, nó chỉ việc ngồi chơi và chờ thông báo gửi tới là email đã đến. Với cách hoạt động này, các chương trình sẽ không sử dụng tài nguyên hệ thống nhưng vẫn sẵn sàng hoạt động khi cần thiết.

Dịch vụ có lẽ quen thuộc hơn với bạn, nó là các yêu cầu từ chương trình cho hệ thống biết là nó cần chạy những gì, trong khoảng thời gian nào, chẳng hạn như chơi nhạc, định vị...

Vậy những điều gì mà chương trình bên thế ba không thể làm khi chạy nền? Thật là thì Android cũng khá mở và hạn chế không phải là lớn. Chỉ là vì ở Android 1.0, Google hoàn toàn không đưa ra một giới hạn nào cho các chương trình nên chúng liên tục "đốt" pin của máy. Chính vì vậy mà từ Android 1.5 trở đi, tất cả các chương trình chạy nền không được sử dụng quá 5-10% công suất của CPU, ngoài ra thì các chương trình nền cũng không được phép thoát khỏi chạy nền một cách dễ dàng nữa mà phải phụ thuộc vào hệ thống cảnh báo của máy.

iOS:

iPhone luôn là hệ điều hành đa nhiệm kể từ thời điểm nó ra đời, nhưng nó lại bị giới hạn trong các chương trình của chính Apple. Kể từ OS 4.0, giới hạn đó đã phần nào được giảm bớt với việc hỗ trợ đa nhiệm từ phần mềm của bên thứ 3 và cho phép chúng chạy nền. Tuy vậy, những giới hạn của OS 4.0 vẫn là khá nhiều. Cũng như Android, ý tưởng đằng sau iPhone OS là người dùng không thật sự quản lý các chương trình theo ý mình mà hệ thống sẽ làm điều đó. Tuy vậy, không có nhiều tài liệu kỹ thuật nói rõ về việc này. Dù sao, chúng ta vẫn biết được một vài kiến thức cơ bản về nó.

iPhone hoạt động theo 7 dịch vụ đa nhiệm cơ bản mà bạn đã biết trong bài giới thiệu OS 4.0 Tinh Tế đăng tải trước kia. 2 dịch vụ cơ bản là fast-app switching và task finishing sẽ được hoạt động khi một chương trình được chạy nền. Dịch vụ đầu tiên sẽ bảo đảm đóng băng chương trình lại mà không tắt nó đi, cho phép người dùng giữ nguyên những gì đang làm khi thoát khỏi chương trình. Và vì người dùng không tự mình quản lý ứng dụng nào tắt hay mở, hệ điều hành sẽ quyết định điều đó. Nó sẽ tự động tắt các chương trình ngay khi có quá nhiều thứ đang chạy, gần giống với ý tưởng của Android. Khi bạn thoát ra khỏi một chương trình mà chương trình đó vẫn đang cần phải hoạt động để hoàn tất các tác vụ thì nó sẽ thông báo cho hệ điều hành biết để không ngắt tiến trình của nó đi cho đến khi tác vụ được hoàn thành.

Các chương trình bên thứ 3 cũng được Apple cung cấp một số tính năng hạn chế khi hoạt động trong chế độ chạy nền. Điểm khác biệt lớn nhất giữa iPhone và Android là các ứng dụng nền trên iPhone không hoạt động hoàn toàn như Android mà nó dựa vào các dụng vụ của Apple cung cấp, đó chính là dịch vụ VoIP, âm thanh và địa điểm. Dịch vụ địa điểm này hoạt động theo kiểu định vị bằng các trạm phát sóng để tiết kiệm pin và GPS cho các dịch vụ dẫn đường.

Hạn chế của đa nhiệm iPhone là không một phần mềm nào thoát khỏi 7 dịch vụ trên. Chẳng hạn nếu một phần mềm nào không phải là VoIP hay Audio... nó sẽ không thể chạy nền được cho dù phần mềm đó vẫn vẫn giữ nguyên được trang thái của mình trong RAM để quay trở lại nhanh chóng hơn khi được gọi.

 Windows Phone

Microsoft đã quay ngược 180 độ, họ đã từng có một trong những hệ điều hành đa nhiệm mở nhất là Windows Mobile nhưng giờ đây, Windows Phone 7 lại là hệ điều hành hạn chế nhất. Mục tiêu của họ là thiết kế Windows Phone 7 sao cho người dùng có những trải nghiệm tốt nhất mà không cần đụng đến đa nhiệm.


Khi bạn chuyển qua một chương trình khác, chương trình hiện tại sẽ không bị tắt đi hoàn toàn mà được lưu trạng thái vào bộ nhớ rồi đóng băng tại đó chờ đợi fast-app switching, giống với cách Android và iPhone thực hiện. Giám đốc bộ phận truyền thông di động của Microsoft, ông Aaron Woodman cho biết: "Khi bạn thoát một chương trình nào đó, tài nguyên hệ thống sẽ được giải phóng nếu hệ điều hành yêu cầu nhưng bạn vẫn có thể quay lại ngay vị trí mà mình tắt chương trình. Khi hệ điều hành cần, chương trình sẽ bị đưa vào quá trình dehydrated và sẽ mở lại ngay lập tức khi bạn truy xuất nó, Microsoft gọi quá trình này là rehydrated. Xếp theo mức độ, dehydrated nằm ngay trên tắt tiến trình 1 nấc, nghĩa là rất gần với việc bị tắt rồi.

Giống như các hệ điều hành iPhone trước bản 4.0, các ứng dụng không thể hoạt động nhiều khi nó bị tắt. Lúc này, hệ điều hành chỉ có thể phát ra các cảnh bảo. Nếu bạn từng coi video trình diễn phần mềm Pandora trên Windows Phone 7, đừng mong chương trình nào cũng được đối xử như vậy, chỉ một vài đối tác cao cấp mới được làm điều đó thôi. Microsoft cũng có rất nhiều cách thức thông báo khác nhau, từ tile notificatiion để push các thông tin lên phần Live Tile ở màn hình chủ, toast notification để hiện lên một cửa sổ pop-up, chẳng hạn như là cuộc gọi cho đến raw notification để phát thông báo đến các chương trình.

Bị giới hạn rất nhiều, hầu hết các phần mềm chỉ có thể nhận và gửi thông báo khi bị ẩn xuống. Tất nhiên là các phần mềm từ "đối tác đặc biệt" sẽ có nhiều quyền hạn hơn một chút. Tuy vậy, Woodman cho biết họ có thể sẽ thay đổi cách thức tùy thuộc và bên thứ ba và người dùng.

Phân biệc về đa nhiệm trên Android và iOS

Đa nhiệm trên iOS

Thông thường, ai sử dụng các thiết bị di động của Apple (iPhone, iPad) cũng biết thao tác nhấn đúp phím Home, bên dưới màn hình để hiện ra một danh sách các ứng dụng đang chạy. Người dùng muốn chuyển sang ứng dụng nào chỉ việc nhấn vào ứng dụng đó, hoặc muốn tắt thì chỉ việc giữ biểu tượng bất kỳ một lúc, sau khi trên mỗi biểu tượng ứng dụng hiện lên dấu tròn đỏ, chỉ việc nhắp vào đó là ứng dụng sẽ được đóng lại. Nhiều người cho rằng, đây là hình thức chạy đa nhiệm trên iOS và để tiết kiệm pin, nên tắt bớt các ứng dụng đang chạy theo cách này.

Tuy nhiên, sự thực thì cái gọi là đa nhiệm này không giống như mọi người thường nghĩ. Các ứng dụng hiện ở thanh quản lý tác vụ khi nhấn đúp phím Home thực chất không phải là các ứng dụng đang chạy nền, mà chỉ là danh sách hiển thị các ứng dụng chạy gần đây. Nền tảng hệ điều hành được kiểm soát chặt chẽ của Apple cho phép hãng này hạn chế hầu như tất cả các ứng dụng tiếp tục thực thi mã lệnh của mình một khi phím Home đã được bấm. Hay nói cách khác, khi nhấn phím Home và quay về màn hình chủ, gần như mọi ứng dụng sẽ dừng hoạt động (theo một nghĩa nhất định).

Về cơ bản, iOS quy định 5 mức tình trạng cho một ứng dụng. Mức độ thấp nhất là Không hoạt động (Not Running), đề cập đến việc ứng dụng đã được đóng hoặc chưa từng được mở. Mức độ Chưa kích hoạt (Inactivate) là mức độ mà một ứng dụng đang chạy nhưng không thực thi mã lệnh nào cả. Mức độ Kích hoạt (Active) là mức độ mà một ứng dụng đang chạy hoặc đang được sử dụng trên màn hình.

Khi người dùng nhấn nút Home, ứng dụng đang chạy (mức Kích hoạt) sẽ chuyển về trạng thái chạy nền (mức Chạy nền (Background). Mức Chạy nền là mức mà ứng dụng dù không hiển thị ở màn hình chính nhưng vẫn tiếp tục thực thi lệnh. Tuy nhiên, hầu hết các ứng dụng mức Chạy nền sẽ ngay lập tức chuyển sang mức cuối cùng là mức Chờ (Suspended). Mức Chờ mà mức mà ứng dụng được lưu vào bộ nhớ nhưng không sử dụng bất kỳ tài nguyên nào của vi xử lý, không thực thi bất cứ mã lệnh nào. Nếu thiết bị cần thêm tài nguyên bộ nhớ cho một trò chơi hay một ứng dụng nặng ký, các ứng dụng ở mức Chờ sẽ bị xóa khỏi bộ nhớ.

Apple chỉ cho phép duy trì các tác vụ đang chạy nền được thực thi mã lệnh trong một vài giây trong những trường hợp đặc biệt (như các ứng dụng liên quan đến VoIP, định vị…) và các mã lệnh (API) này được hãng kiểm soát rất chặt chẽ. Các mã lệnh của các ứng dụng này vì thế có thể vẫn chạy và không lệ thuộc vào việc ứng dụng đó có được hiển thị trên thanh quản lý tác vụ hay không. Theo hãng thì một ứng dụng tốt phải là ứng dụng tự chuyển về chế độ Chờ mỗi khi thực thi xong mã lệnh và người dùng không cần thiết phải quan tâm đến việc tìm cách điều khiển quá trình này một khi đã sử dụng hệ điều hành iOS.

Đa nhiệm trên Android

Kể từ hệ điều hành Android 4.0 Ice Cream Sandwich, Google đã thay đổi đang kể cách thức quản lý đa nhiệm của mình. Bằng việc đưa ra Danh sách những ứng dụng đang chạy gần đây, người dùng chỉ việc tắt bằng cách xóa nó khỏi danh sách. Cũng như iOS, nó mang lại cho người dùng cảm giác là mình đang quản lý các tác vụ chạy đa nhiệm, và tắt bớt ứng dụng có thể giải phóng thêm bộ nhớ. Nhưng sự thật không hoàn toàn như vậy.

Danh sách các ứng dụng chạy gần đây chỉ đơn giản đúng là danh sách liệt kê các ứng dụng vừa chạy với hình ảnh thu nhỏ. Chúng đơn giản chỉ có mặt trên danh sách mà không đảm bảo là đang thực sự thực thi một mã lệnh nào đó. Tuy nhiên khác với iOS, khi người dùng bấm nút quay về màn hình chính (Home), ứng dụng đang chạy không ngay lập tức chuyển về trạng thái Chờ mà các tiến trình liên quan đến ứng dụng này vẫn tiếp tục chạy nền, vẫn cho phép ứng dụng thực thi các công việc của nó..

Khi người dùng muốn quay lại ứng dụng họ đã thoát, tiến trình chạy của ứng dụng đó sẽ được khôi phục lên màn hình chính gần như tức thời. Lý tưởng mà nói, một thiết bị Android sẽ không bao giờ bị hết bộ nhớ và tất cả các tiến trình của các ứng dụng đang chạy có thể trú ngụ ở RAM vĩnh viễn. Nhưng trên thực tế, đến một thời điểm nào đó mà thiết bị của bạn thấy thiếu tài nguyên bộ nhớ, cũng như iOS, Android sẽ đóng tất cả các tiến trình đang chạy ảnh hưởng đến tài nguyên. Và khi người dùng quay lại mở ứng dụng bị đóng đó, toàn bộ tiến trình của ứng dụng sẽ phải tải lại từ đầu. Vì thế mặc dù ứng dụng này có thể ở trong danh sách các ứng dụng chạy gần đây nhưng thực ra nó cũng không liên quan tới việc ứng dụng đó có đang chạy nền hay không.

Trong những lần cập nhật gần đây, Android đã đủ thông minh để quản lý tác vụ đa nhiệm thay cho người dùng. Vì thế chẳng có lý do gì mà hệ điều hành này để người dùng can thiệp vào quá trình quản lý tác vụ cả. Các tác động của người dùng sẽ chỉ gây những ảnh hưởng xấu đến quá trình tự động hóa quản lý của Android trong công cuộc làm cho hệ thống chạy trơn tru hơn.

Tuy nhiên, các nhà phát triển vẫn có cách để tạo ra các ứng dụng thực thi mã lệnh khi chạy nền trên Android mà không bị chính hệ điều hành này tắt mất. Nguyên do là cũng như iOS, một số lệnh liên quan đến truyền dẫn thông tin dùng cho các dịch vụ định vị hay đồng bộ luôn được phép chạy nền mà không bao giờ bị tắt. Thêm vào đó, các nhà phát triển cũng có thể tạo ra các ứng dụng luôn duy trì chạy nền dưới dạng các Dịch vụ (Service), và vì thế có thể vượt qua được hạn chế bị hệ thống giải phóng khỏi bộ nhớ. Đây là cơ chế đa nhiệm đặc trưng trên các thiết bị Android. Do các tiến trình thông thường sẽ bị hệ thống giải phóng trước các tiến trình Dịch vụ, các nhà phát triển sẽ làm cho hệ thống nhận thấy mức độ quan trọng của một ứng dụng Dịch vụ bằng cách đưa các dịch vụ này từ chạy nền lên chạy chính trên màn hình thông qua các Thông báo (Notification) dưới dạng các biểu tượng trên thanh thông báo. Người dùng có thể thấy các mẹo này trên những ứng dụng như Locale (thông tin về vị trí hiện tại) hay các ứng dụng chơi nhạc.

Ai nắm quyền điều khiển tác vụ đa nhiệm?

Dù là iOS hay Android, người dùng cũng cần hiểu là hệ điều hành sẽ là người quản lý hầu hết các tác vụ đa nhiệm. iOS sẽ không bao giờ cho phép người dùng tự ý can thiệp vào các tác vụ đang chạy. Các tiến trình ở mức Chờ sẽ bị hệ thống tự động tắt khi cần thiết, không phụ thuộc vào việc ứng dụng đó có ở trên thanh quản lý tác vụ hay không.

Android cũng tương tự, hệ điều hành sẽ đóng tất cả các tiến trình khi thấy không cần thiết nữa, tuy nhiên nó “rộng rãi” hơn iOS là cho các nhà phát triển một số cơ hội tạo ra các ứng dụng chạy nền. Theo đó các tiến trình liên quan đến một ứng dụng khi ở chế độ nền vẫn có thể tự do thực thi lệnh, chỉ bị tắt khi hệ thống thấy bộ nhớ đệm bị đầy. Nếu muốn tạo ra các ứng dụng chạy nền hiệu quả hơn, các nhà phát triển cũng có thể viết các ứng dụng có dùng các lệnh liên quan đến truyền dẫn thông tin (BroadcastReceiver) hay các ứng dụng dưới dạng các Dịch vụ. Và mặc dù giao diện Android 4.0 cho phép người dùng xem hay thêm bớt danh sách các ứng dụng vừa chạy, điều đó cũng không có nghĩa là người dùng có thể kiểm soát các tác vụ đa nhiệm này. Công việc này vẫn sẽ do hệ điều hành tự quyết định.

Tuy nhiên, người dùng cũng không nên quá lo lắng về điều này. Các ứng dụng chạy nền dù là trên iOS hay Android cũng đều được hệ điều hành quản lý theo cách thức hiệu quả nhất. Cả hai nền tảng này sẽ tự biết cách cho phép ứng dụng nào chạy hay tự tắt các tiến trình không cần thiết, và việc người dùng có thêm hay xóa các ứng dụng trên thanh quản lý tác vụ hầu như chả có ích gì ngoài mang lại một chút yên tâm cho mình.

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015

Tools DDOS (udp) tham khảo trên whitehat

Giới thiệu công cụ UDP Unicorn

Giới thiệu công cụ UDP Unicorn
Việc sử dụng các công cụ DoS để thử khả năng chịu tải về băng thông đã không còn lạ với những người quản trị hệ thống. Do vậy ở bài này mình sẽ giới thiệu một công cụ để phục vụ nhu cầu đấy.
UDP Unicorn là một công cụ mã nguồn mở mô tả cho một quá trình DoS bằng cách gửi liên tục các gói tin UDP tới mục tiêu. Công cụ này sử dụng Winsock (Windows Sockets – là một đặc điểm kỹ thuật định nghĩa cách thức các phần mềm của Windows truy cập vào dịch vụ mạng, đặc biệt là TCP/IP) để tạo socket và gửi gói tin UDP.

Tính năng của UDP Unicorn
- Sử dụng đa luồng để đồng thời gửi gói tin UDP.
- ICMP send và receive.
- Quét các cổng đang mở.
- Nhắm vào mục tiêu với cổng ngẫu nhiên hoặc tùy chọn và sử dụng gói tin với kích thước ngẫu nhiên.

Hướng dẫn sử dụng công cụ
Trước khi đi vào sử dụng ta cần hiểu xem các thành phần trên giao diện có ý nghĩa là gì ?

Name:  1.jpg
Views: 14
Size:  31,7 KB
- Target: Lựa chọn mục tiêu thử nghiệm có thể gõ địa chỉ IP hoặc tên miền.
- Port : Ta có thể để cổng random hoặc là chọn một cổng đã định sẵn như là cổng SSH, telnet, …
- Packet Size: Tùy chọn kích thước của gói tin hoặc ta cũng có thể để kích thước ngẫu nhiên.
- Threads: Quy định số luồng.
- Sockets per Thread: Quy định số sockets của mỗi luồng.
- Ping Target: Kiểm
- DNS: Xác định địa chỉ IP của mục tiêu.
- Data Sent : Xem tổng dung lượng gói tin đã tạo ra để nhắm tới mục tiêu.
Ngoài ra ta cũng có thể quét các cổng đang mở của mục tiêu bằng cách vào Tools -> Port Scanner.
Giờ ta sẽ bắt tay vào demo một ví dụ cho mọi người dễ hình dung được hơn.

Bước 1: Thiết lập các thông số để bắt đầu thử nghiệm một cuộc tấn công DoS tới mục tiêu: Target, Port, Packet Size, Threads, Sockets per Thread.
Name:  2.jpg
Views: 14
Size:  27,5 KB

Bước 2: Click vào Attack để bắt đầu một cuộc tấn công DoS
Ở đây mình đã thử nghiệm tấn công trong 10s và sử dụng wireshark để bắt các gói tin.

Name:  3.jpg
Views: 14
Size:  85,2 KB
Ta thấy trong khoảng 10s thì công cụ đã sinh ra khoảng 104368 gói tin UDP gửi tới mục tiêu và nhận thấy kích thước các gói tin và cổng cũng là khác nhau.

Mọi người có thể download công cụ ở đây:
Link download: http://sourceforge.net/projects/udpunicorn/



Giới thiệu công cụ DoS LOIC

Chào cả nhà!
Hôm nay mình xin giới thiệu công cụ trợ giúp việc thử nghiệm khả năng chịu tải của dịch vụ mạng bằng các cuộc tấn công DoS.

1. Tính năng
Low Orbit Ion Cannon (LOIC) là tool mã nguồn mở trợ giúp trong việc thử nghiệm khả năng chịu tải của dịch vụ mạng bằng các cuộc tấn công DoS, viết bằng C#. LOIC ban đầu được phát triển bởi Praetox Technologies và sau đó đã được phát hành public dưới dạng mã nguồn mở.
LOIC thực hiện một cuộc tấn công DoS theo kiểu flooding với gói tin TCP và UDP làm gián đoạn dịch vụ của máy chủ mục tiêu.
Một số tính năng chính:
· Cho phép tùy chỉnh sử dụng 3 loại gói tin để tấn công khác nhau TCP, UDP, HTTP.
· Sử dụng hình thức DoS, mở ra nhiều kết nối tới máy chủ mục tiêu và gửi liên tục các thông điệp.
· Cho phép tùy chỉnh tốc độ và số thread để sinh gói tin phù hợp với việc test tải của website.

2. Hướng dẫn sử dụng
Bước 1 : Chạy phần mềm.
Bước 2: Nhập URL (Hoặc địa chỉ IP) của trang web trong trường URL và click vào Lock on. Sau đó chọn phương pháp tấn công (TCP, UDP hoặc HTTP). Ở đây sẽ bắt đầu với TCP.


Name:  122011_2124_LOICLowOrbi3.jpg
Views: 25
Size:  53,9 KB

Bước 3: Thay đổi các thông số theo sự lựa chọn của người dùng hoặc để mặc định sau đó nhấn vào “IMMA CHARGIN MAH ”
Một số tùy chọn:
· Timeout: Cho phép bạn chọn thời gian timeout.
· Method: Cho bạn bạn chọn loại gói tin để tấn công.
· TCP/UDP message: Cho phép bạn ghi tin nhắn để gửi tới server của mục tiêu.
· Speed: Cho phép bạn thay đổi tốc độ sinh gói tin để tấn công mục tiêu.

Ý nghĩa của một số thông số ở mục “Attack status”
· IDLE: Nó cho thấy số lượng các threads đang chờ. Số lượng Idle ở đây nên bằng 0 để cuộc tấn công có hiệu quả cao hơn.
· Connecting: Số lượng các Threads đang cố gắng kết nối với máy chủ nạn nhân.
· Requesting: Số lượng các threads được yêu cầu thông tin từ máy chủ nạn nhân.
· Downloaded: Số lần tải dữ liệu đã được bắt đầu từ máy chủ nạn nhân.
· Requested: Số lần máy chủ nạn nhân nhận dữ liệu.
· Failed: Số lần các máy chủ không đáp ứng với các yêu cầu.

3. Kết quả thực nghiệm
Ở đây mình đã thử nghiệm tool này với mục đích xem khả năng nó hoạt động, tốc độ sinh ra gói tin, kích thước gói tin khi tool DoS một website (cụ thể mình sẽ thử nghiệm với google.com.vn).
Cánh mình thực hiện là thử nghiệm tấn công với 3 loại gói tin: HTTP, TCP, UDP. Đối với mỗi loại ta thử nghiệm với các tốc độ khác nhau: nhanh nhất, trung bình, chậm nhất. Và với mỗi mức tốc độ ta thử nghiệm với 3 số luồng khác nhau: 1 threads, 10 Threads, 100 Threads.
HTTP1 luồng10 luồng100 luồng
Size (bytes)So gói tin /5sSố connectSizeSố gói tin /5sSố connectSizeSố gói tin /1sSố connect
Tốc độ thấp669866807766107102
Tốc độ TB668866817366119110
Tốc độ nhanh6617176611811166120112
Gói tin HTTP
Ta thấy tốc độ sinh gói tin HTTP thay đổi thấp khi ta thay đổi tốc độ nhưng khi thay đổi số luồng thì số gói tin có sự thay đổi khác biệt, hơn kém nhau khoảng 4 lần.
Gói tin TCP
TCP1 luồng10 luồng100 luồng
Size (bytes)So gói tin /5sSố connectSize (bytes)So gói tin /5sSố connectSize (bytes)So gói tin /5sSố connect
Tốc độ thấp60341602237605267
Tốc độ TB60753605844608026
Tốc độ nhanh60778960177716023026



Ta nhận thấy xét về kích thước gói tin thì không thay đổi nhiều. Nhưng xét về tốc độ sinh gói tin thì khi ta thay đổi tốc độ thì tốc độ sinh gói tin hơn nhau khoảng 4 lần, còn khi thay đổi số luồng thì tốc độ sinh gói tinh khoảng 2 lần.

Gói tin UDP
UDP1 luồng10 luồng100 luồng
Size (bytes)So gói tin /5sSố connectSize (bytes)So gói tin /5sSố connectSize (bytes)So gói tin /5sSố connect
Tốc độ thấp74431742992743519
Tốc độ TB74836747452748212
Tốc độ nhanh74845402741751035741751905

Ta nhận thấy cùng với khoảng thời gian như 2 loại gói tin TCP và HTTP thì gói tin UDP sinh ra nhiều hơn rất nhiều so với 2 loại kia. Và số gói tin thay đổi rất nhiều khoảng 10 lần khi thay đổi từ tốc độ trung bình lên đến tốc độ nhanh.



Giới thiệu công cụ XOIC

Chào tất cả mọi người như bài trước mình đã giới thiệu một tools về DoS LOIC. Mọi người có thể xem link ở đâyhttp://whitehat.vn/threads/9506-Gioi...-DoS-LOIC.html. Trong bài này mình sẽ hướng dẫn thêm một tools DoS nữa. Mọi người tham khảo nhé.

1. Tính năng
XOIC là một công cụ để thử nghiệm việc tấn công DoS. Công cụ này tấn công theo hình thức DoS đến bất kỳ một địa chỉ IP, với cổng và giao thức tùy chọn. Công cụ này còn cho phép thử nghiệm với 3 chế độ: Test Mode, SEMDA MESSAGE, MAKE A DoS. 
XOIC là một tool thử nghiệm mạnh mẽ hơn tools DoS LOIC (Low orbit cannon). Nguyên nhân là do XOIC đã bỏ qua những thứ liên quan đến hiệu suất tạo gói tin tấn công mục tiêu (ví dụ như yêu cầu truy cập, các message TCP, UDP, ICMP, …). Đồng thời tools này còn hơn LOIC ở chỗ nó cho phép tùy chọn 3 chế độ thử nghiệm phù hợp với mục đích người dùng.
Một số tính năng chính:
- Thử nghiệm khả năng chịu tải của dịch vụ bằng hình thức DoS.
- Cho phép khả năng tùy chọn các loại gói tin để tấn công: TCP, UDP, ICMP.
- Thử nghiệm theo 3 chế độ phù hợp với nhu cầu người dùng.
Ø TEST MODE: chế độ kiểm tra cho bạn biết thời gian máy chủ đáp ứng được số request được tạo ra từ bạn.
Ø SEMDA MESSAGE: tấn công DoS cho phép tùy chọn message các gói tin TCP/UDP/ICMP.
Ø MAKE A DoS: chế độ tấn công DoS – Normal (Không yêu cầu truy cập và mặc định message cho các gói tin HTTP TCP UDP ICMP).

2. Hướng dẫn sử dụng
Bước 1: Chạy phần mềm.
Bước 2: Nhập địa chỉ IP của mục tiêu vào ô IP và cổng để tấn công.

Bước 3: Chọn kiểu gói tin TCP, UDP, HTTP.
Bước 4: Chọn chế độ tấn công:
- TEST MODE.
- SEMDA MESSAGE.
- MAKE A DoS.

3. Kết quả thực nghiệm
Ở đây tôi đã thử nghiệm tool này với mục đích xem khả năng nó hoạt động, số lượng mỗi gói tin sinh ra, kích thước gói tin ở mỗi loại TCP, UDP, ICMP với 3 chế độ tấn công TEST MODE, SEMDA MESSAGE, MAKE A DoS.
Ở đây mình thử nghiệm DoS tên miền google.com.vn và sử dụng wireshark để bắt các gói tin được tạo ra và tập chung xem đây là loại gói tin gì ? kích thước như thế nào ? số lượng bao nhiêu ?
Đối với chệ độ TEST MODE đây là chế độ kiểm tra cho bạn biết thời gian máy chủ đáp ứng được số request được tạo ra từ bạn.
Kết quả:

Test Mode
Size
(bytes)
Thời gian đáp ứngSố connect
TCP6633s10000
UDP491s10000
ICMP4220s10000

Ta thấy đối với 2 loại gói tin là TCP và ICMP thì thời gian đáp ứng với 2 loại này là tương đương với nhau. Còn với gói tin UDP thì thời gian đáp ứng là tương đối nhanh nhỏ hơn hoặc bằng 1s đối với 10000 connect.
Đối với chế độ SEMDA MESSAGE và MAKE A DoS ta có kết quả thực nghiệm số lượng gói tin sinh ra và kích thước gói tin.
Send MessageMake A DoS
Size (bytes)Số gói tin/10sSize(bytes)Số gói tin /10s
TCP6334266298
UDP51661025160494

Từ kết quả thực nghiệm ta nhận thấy khi thử nghiệm chế độ Send Message nếu ta để mặc định thì cả về kích thước hay tốc độ sinh gói tin cũng gần tương đương với Make A DoS. Và còn một điều lưu ý khi thử nghiệm đối với gói tin UDP ở cả hai chế độ Send Message và Make A DoS, nó sẽ gây ảnh hưởng tới mạng lan mà bạn đang ở trong đấy để để thử nghiệm, khiến việc truy cập mạng của các máy tính khác bị chậm, do vậy mọi người lưu ý khi sử dụng tool này.
Download: http://sourceforge.net/projects/xoic/